27/08/2026
Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo là cột mốc chiến lược, tạo đột phá về tư duy và thể chế cho giáo dục Việt Nam. Văn kiện đặt mục tiêu đến năm 2035 có ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học lọt top 100 thế giới, bảo đảm quyền tự chủ toàn diện cho các trường, ưu tiên đầu tư mạnh mẽ cho đội ngũ nhà giáo. Đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số, đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai và ứng dụng AI có trách nhiệm trong giảng dạy, đào tạo nhân lực chất lượng cao cho khát vọng phát triển đất nước đến 2045.
Câu hỏi đặt ra: điểm mới mang tính đột phá của Nghị quyết là gì?
Điểm đột phá ấn tượng nhất trong văn kiện lần này là đột phá về tư duy, nhận thức và quyết tâm, quyết liệt thay đổi mạnh mẽ về thể chế trong giáo dục và đào tạo. Nghị quyết khẳng định giáo dục đào tạo không chỉ là quốc sách quan trọng hàng đầu, mà còn là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc.
Chính sự nhận thức này là gốc rễ, nền tảng cho những thay đổi. Nghị quyết chỉ ra rất rõ để giáo dục và đào tạo có sự phát triển đột phá trong kỷ nguyên mới, thì các luật, chính sách nhất định phải thay đổi theo.
Đổi mới thể chế với tư duy theo hướng thay vì quản lý, phải kiến tạo, với những cơ chế chính sách đặc thù, vượt trội để các nhà trường, các cơ sở giáo dục và đào tạo có thể thu hút được mọi nguồn lực, cả hữu hình và vô hình cho sự phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo và sự tăng trưởng của nhà trường, hội nhập với trình độ và chuẩn mực quốc tế.
Nghị quyết chỉ rõ: Đến 2035 phải có ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học có những lĩnh vực được xếp hạng top 100 thế giới; đến 2045 Việt Nam vào top 20 quốc gia có nền giáo dục công bằng, hiện đại nhất thế giới.
Giáo dục đại học có ý nghĩa rất quan trọng trọng việc thúc đẩy thực hiện thành công nghị quyết 57. Nghị quyết 57 không thể thành công như mong đợi nếu giáo dục đại học Việt Nam không đổi mới và cất cánh.
Nghị quyết 71 khẳng định bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ và toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính.
Nghị quyết 71-NQ/TW cũng thay đổi căn bản tư duy đầu tư tài chính cho giáo dục đại học tới tầm và vượt trội; thiết thực chăm lo cho đội ngũ giảng viên và hỗ trợ tài chính và tạo cơ hội học tập cho mọi người.
Bên cạnh đó, Nghị quyết 71-NQ/TW cũng cộng hướng với Nghị quyết 57, quyết liệt chỉ đạo xây dựng những mô hình đại học mới - đại học đổi mới sáng tạo, đại học công nghệ thế hệ mới để trở thành nòng cột và đầu tàu đổi mới, dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam.
Nghị quyết 71-NQ/TW cũng chỉ đạo khẩn trương thúc đẩy hội nhập quốc tế mạnh mẽ hơn nữa trong giáo dục, đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2 trong nhà trường.
Đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng các công nghệ hiện đại và ứng dụng trí tuệ nhân tạo có đạo đức và trách nhiệm trong nền giáo dục hiện đại và văn minh.
Đây là những điểm đổi mới rất mạnh dạn, quyết liệt với tầm nhìn xa trông rộng, đáp ứng mong mỏi của toàn xã hội.
Sự đầu tư thỏa đáng được khẳng định trong nghị quyết 71 sẽ đóng vai trò quan trọng để hiện đại hóa trường học theo đúng tinh thần "trường ra trường, lớp ra lớp".
Đồng thời có đầu tư, sẽ có trang thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với nghiên cứu và gắn hoạt động đổi mới sáng tạo của các trường với doanh nghiệp tốt hơn và nhanh hơn nữa.
Việc nâng cao chế độ đãi ngộ là sự động viên rất lớn của Đảng và Nhà nước với các nhà giáo. Đời sống, thu nhập được cải thiện, nhà giáo sẽ yên tâm công tác, toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp trồng người, tăng sức thu hút của nghề nhà giáo với xã hội.
Những giải pháp tài chính trên là những đòn bẩy rất quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đẩy nhanh tốc độ hội nhập quốc tế của hệ thống giáo dục Việt Nam.
Với xuất phát điểm về xếp hạng của các trường đại học Việt Nam như hiện nay, để đạt được mục tiêu có trường đại học xếp hạng top 100 thế giới về ngành và lĩnh vực đào tạo là câu chuyện không đơn giản và dễ dàng. Nhưng chính vì mục tiêu đó mà trường đại học thuộc tỉnh, TPTW như trường ta bắt buộc phải đổi mới tư duy, đổi mới đầu tư, đổi mới cơ chế chính sách và đổi mới hành động để góp phần cho giáo dục đại học Việt Nam cất cánh.
Trước hết phải quan tâm phát triển tiềm lực KHCN trong nhà trường. Đây là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất. Nhà trường phải xây dựng được đội ngũ cán bộ giảng viên đại học giỏi giang và ưu tú, không chỉ công bố khoa học đỉnh cao mà còn có năng lực đổi mới sáng tạo, gắn kết thật tốt các hoạt động đào tạo và nghiên cứu, đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp; có hoài bão cống hiến. Cần chăm lo cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm hiện đại, phải tạo cơ chế thu hút được nhân tài cho sự phát triển, xây dựng được những tập thể - các nhóm nghiên cứu mạnh, xuất sắc trong nhà trường. Cần phải thẳng thắn nói rằng, điều kiện để các nhóm nghiên cứu trở thành nhóm nghiên cứu mạnh, xuất sắc trong trường ta là chưa thể đạt được ngay trong một vài năm tới do còn thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi và đồng bộ.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai và tích hợp chuẩn năng lực số, trí tuệ nhân tạo vào chương trình giáo dục.
Đây là chủ trương rất cần thiết và cấp bách trong bối cảnh hiện nay. Năm 2024, giải Nobel Vật lý đã được trao cho 2 giáo sư: John J. Hopfield (Mỹ) và Geoffrey E. Hinton (Canada), những nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực máy học và mạng lưới thần kinh nhân tạo, những nền tảng cho công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) hiện đại.
Công trình của họ đã tạo ra các phương pháp để máy móc học và xử lý thông tin, mở đường cho sự phát triển vượt bậc của trí tuệ nhân tạo ngày nay.
Cũng trong năm 2024, nhà hóa học Mỹ David Baker đoạt giải Nobel nhờ công trình nghiên cứu, phát triển một công cụ dự đoán protein do AI điều khiển tên RoseTTAFold.
Trong khi đó, Demis Hassabis và John M. Jumper đoạt giải Nobel 2024 do đã phát triển thành công một hệ thống AI giải quyết được bài toán dự đoán cấu trúc protein làm đau đầu giới khoa học suốt 50 năm nay.
Những thông tin trên, cùng với sự ra đời của siêu trí tuệ nhân tạo (AGI - là những hệ thống có thể học mọi tri thức, có nhận thức, vượt qua trí thông minh của con người) và sự hiện diện của AI trong hầu hết tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, cho thấy AI đã trở thành công nghệ lõi mũi nhọn, hết sức cần thiết phải đưa AI vào trong nhà trường.
Và hơn thế, các trường đại học, viện nghiên cứu của Việt Nam phải có chiến lược để tiên phong nghiên cứu và phát triển, làm chủ một số công nghệ AI phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Việc phổ cập tiếng Anh làm ngôn ngữ thứ 2, cũng như chuyển đổi số và sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong nhà trường ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là chín muồi và hết sức cần thiết để giáo dục Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại và hội nhập.
Được trang bị những hành trang này ngay từ những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường cho đến giảng đường đại học, cùng với nền tảng kiến thức STEM, thế hệ trẻ Việt Nam sẽ có năng lực cạnh tranh rất tốt, có cơ hội làm việc trong bất cứ môi trường nào, trong nước cũng các tập đoàn toàn cầu, đa quốc gia cũng như tạo cho Việt Nam lợi thế thu hút đầu tư của các công ty nước ngoài.
Với số lượng giáo viên tiếng Anh cũng có hạn, biên chế sinh viên trong lớp học của ta còn lớn, có lớp lên đến 45-50 học sinh thì giáo viên tiếng Anh sẽ bị quá tải. Do đó việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong việc dạy và học tiếng Anh có vai trò vô cùng quan trọng.
AI hỗ trợ giáo viên tiếng Anh chấm nói, chấm viết, soạn bài giảng, đánh giá tổng thể năng lực từng học sinh. AI hỗ trợ người học luyện nói, luyện viết cũng như cả 4 kỹ năng. Ứng dụng AI cấp bách là trong việc dạy và học tiếng Anh.
Bên cạnh đó, là chương trình, giáo trình và bài giảng. Để tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2, thì không chỉ dạy môn tiếng Anh để thi IELTS, mà còn phải có chương trình, giáo trình, bài giảng và giáo viên dạy các môn chuyên môn như toán, lý, hóa… bằng tiếng Anh.
Trường Đại học Hồng Đức vừa ban hành quyết định công bố tầm nhìn chiến lược
Căn cứ Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 58-NQ/TW ngày 05/8/2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội. Ngày 21 tháng 8 năm 2026, Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh Hóa đã công bố quyết định 2635//QĐ-UBND ban hành “Sứ mạng, Chiến lược phát triển Trường Đại học Hồng Đức đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” . Đây là những bước đi đột phá thể hiện sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBND và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh về một trường đại học của tỉnh nhà.
Mục tiêu tổng quát là: Xây dựng và phát triển Trường Đại học Hồng Đức thành Trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa và đất nước, cụ thể: Đến năm 2030: Trường Đại học Hồng Đức trở thành trường đại học thông minh, đổi mới sáng tạo; là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, có uy tín trong nhóm các trường đại học hàng đầu của khu vực và cả nước; nằm trong tốp 200 trường đại học trong khối ASEAN. Đến năm 2045: Trường Đại học Hồng Đức trở thành trường đại học đổi mới sáng tạo; là trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học mạnh của cả nước; nằm trong tốp 150 trường đại học trong khối ASEAN; hội nhập với các trường đại học tiên tiến trên thế giới.
Mục tiêu được đặt ra một cách cụ thể đến từng năm, từng lĩnh vực. Chẳng hạn, về đào tạo và đảm bảo chất lượng, ngay năm 2026 này nhà trường cần phấn đấu để đạt được :
+ Có khoảng 3.500 người học tốt nghiệp; trong đó người tốt nghiệp trình độ thạc sĩ, tiến sĩ chiếm khoảng 14%. + Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm sau một năm tốt nghiệp đạt từ 93% trở lên, trong đó tỷ lệ làm việc phù hợp với ngành hoặc lĩnh vực đào tạo đạt từ 89% trở lên.
+ Rà soát, cơ cấu lại danh mục ngành đào tạo; ưu tiên mở mới và phát triển các ngành, chương trình liên ngành, xuyên ngành phục vụ các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, công nghiệp văn hóa, du lịch, thể thao, công nghệ số và nhu cầu nhân lực của tỉnh Thanh Hóa; mở 01 ngành mới.
+ Tỷ lệ học phần có học liệu số và tổ chức dạy học kết hợp phù hợp với đặc thù ngành đạt 80%.
+ Phấn đấu 35% CTĐT được kiểm định; có ít nhất 01 chương trình đào tạo tiên tiến được giảng dạy bằng tiếng Anh.
Khó, nhưng với quyết tâm đủ lớn, ý chí đủ tầm của từng vị trí việc làm trong nhà trường, chắn chắn Trường Đại học Hồng Đức sẽ cất cánh sau sáp nhập với trường Đại học Văn hóa Thể Thao và Du lịch Thanh Hóa.
(Bài viết tham khảo từ trang diễn đàn xây dựng chính sách và pháp luật của báo điện tử chính phủ).
BBT